Chủ Nhật, 27/9/2020 - 12:7:12 Đường dây nóng: 096 774 2199

Đảm bảo nguồn lực tài chính cho công tác dinh dưỡng

Thứ Ba, 10/12/2019 22:35:00

(BKTO) - Đây là một trong những đề xuất được đưa ra trong Báo cáo “Suy dinh dưỡng dai dẳng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Việt Nam: Vấn đề và các giải pháp can thiệp” do Ngân hàng Thế giới và Viện Dinh dưỡng Quốc gia công bố hôm nay (10/12).

Theo báo cáo, tình trạng thiếu dinh dưỡng ở Việt Nam đặc biệt phổ biến trong nhóm trẻ em dân tộc thiểu số, với tỷ lệ thấp còi ở mức cao nhất thế giới. Thống kê trong báo cáo cho thấy, trong 3 trẻ dân tộc thiểu số thì có 1 em thấp còi và trong 5 trẻ thì có 1 em nhẹ cân. Để giải quyết tình trạng này, báo cáo khuyến nghị cần phải có những cách tiếp cận mới, được thiết kế riêng phù hợp với những yếu tố về địa lý và văn hóa đặc thù của cộng đồng dân tộc thiểu số.

Ông Ousmane Dione - Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết: “Mặc dù trong hai thập kỷ qua, trẻ em dân tộc thiểu số vẫn tụt lại phía sau và khoảng cách chênh lệch với trẻ em người Kinh ngày càng lớn.Trong giai đoạn tới, cần nỗ lực cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng với ưu tiên tập trung vào các tỉnh có tỷ lệ cao nhất nhằm tạo ra những thay đổi căn bản.”

Giai đoạn 1.000 ngày đầu đời kể từ khi người mẹ bắt đầu mang thai cho đến khi trẻ tròn 2 tuổi là thời điểm vàng quyết định sự phát triển tối ưu về thể chất và trí tuệ của trẻ nếu có chế độ dinh dưỡng đầy đủ. Nếu trẻ không được cung cấp đủ dưỡng chất trong giai đoạn này sẽ dẫn tới những tổn thương nghiêm trọng khó có thể khắc phục đối với sự phát triển thể chất và trí não. Báo cáo nhấn mạnh các giải pháp can thiệp để cải thiện chất lượng dinh dưỡng cần tập trung vào trẻ em trong giai đoạn này và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

Báo cáo cho biết, chỉ có 39% trẻ em dân tộc thiểu số trong độ tuổi từ 6 - 23 tháng có chế độ dinh dưỡng đầy đủ; 32,7% phụ nữ dân tộc thiểu số trong độ tuổi 15-49 đã đi khám thai và được bổ sung các vitamin và khoáng chất thiết yếu cũng như tư vấn về dinh dưỡng.

Theo báo cáo, các yếu tố văn hóa xã hội cũng góp phần dẫn đến tình trạng này. Kết hôn sớm và mang thai ở tuổi vị thành niên vẫn còn phổ biến ở phụ nữ dân tộc thiểu số, 23,9% phụ nữ bắt đầu sinh con trong độ tuổi từ 15 đến 19. Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là tâm lý e ngại của người dân tộc thiểu số trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế dự phòng và khám, chữa bệnh.

Báo cáo cũng chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em bắt nguồn từ nghèo đói. Theo thống kê năm 2016, các nhóm dân tộc thiểu số tại Việt Nam chiếm đến 73% số hộ nghèo dù chỉ chiếm 14% tổng dân số.
 

Việt Nam cần nhiều giải pháp can thiệp để cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng trong cộng đồng dân tộc thiểu số- Ảnh: ST

Từ thực trạng trên, báo cáo đề xuất một số giải pháp chính Việt Nam có thể thực hiện để cải thiện các chỉ số về dinh dưỡng cho trẻ em dân tộc thiểu số. Đó là xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả hơn trong vấn đề dinh dưỡng với sự chỉ đạo của chính phủ và một cơ chế điều phối hiệu quả của các cơ quan liên quan.

Đảm bảo nguồn lực tài chính cho công tác dinh dưỡng, trong đó đảm bảo ngân sách đầy đủ cho các can thiệp đã được kiểm chứng về tính hiệu quả. Các tỉnh có tình trạng suy dinh dưỡng trầm trọng nhất cần được ưu tiên phân bổ và tiếp nhận ngân sách công để thực hiện các can thiệp dinh dưỡng.

Việt Nam cũng cần thực hiện can thiệp dinh dưỡng trực tiếp đã qua kiểm chứng ở quy mô lớn. Xác định và mở rộng quy mô của các chương trình can thiệp toàn diện có hiệu quả cao ở cấp hộ gia đình trong giai đoạn 1.000 ngày đầu đời của trẻ, kết hợp với các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi xã hội phù hợp với văn hóa.

Về các giải pháp đa ngành để khắc phục các nguyên nhân suy dinh dưỡng, báo cáo đề xuất, Việt Nam cần đưa mục tiêu giải quyết tình trạng thiếu dinh dưỡng vào Chương trình Mục tiêu Quốc gia thành một ưu tiên và có phân bổ ngân sách phù hợp. Tăng khả năng tiếp cận của các nhóm dân tộc thiểu số với gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện dành cho vị thành niên, phụ nữ mang thai và trẻ em; dịch vụ nước sạch và vệ sinh môi trường. Khuyến khích và áp dụng chính sách ưu đãi để trẻ em gái là người dân tộc thiểu số tham gia và hoàn thành chương trình bậc trung học phổ thông. Mở rộng chương trình trợ cấp tài chính tập trung vào các hộ gia đình dân tộc thiểu số nghèo nhất có phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong giai đoạn phát triển 1.000 ngày đầu đời.

Đ. KHOA

Bình Luận