Thứ Bảy, 27/02/2021 - 20:30:18 Đường dây nóng: 096 774 2199

7 giải pháp phát triển kinh tế tri thức

Thứ Tư, 27/01/2021 16:05:00

(BKTO) - Việc thực hiện 7 giải pháp trong nhiệm kỳ tới sẽ giúp Việt Nam phát triển kinh tế tri thức, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ và đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.

Theo đồng chí Nguyễn Thành Phong, kinh tế tri thức đóng vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá  đất nước.


Ngày 27/01, trong khuôn khổ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thảo luận tại Hội trường về các văn kiện trình Đại hội, đồng chí Nguyễn Thành Phong - Ủy viên T.Ư Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP. HCM – đã đề xuất 7 giải pháp phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở thực tiễn phát triển vấn đề này tại địa phương.

Theo đồng chí Nguyễn Thành Phong, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và nhiều văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước đã khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế tri thức trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để phát triển kinh tế tri thức trong thời gian tới, cần thực hiện 7 giải pháp sau:

Thứ nhất, đổi mới cơ chế, chính sách, tạo lập một khuôn khổ pháp lý mới phù hợp với sự phát triển nền kinh tế tri thức. Xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế tri thức giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045. Chiến lược cần đánh giá đúng thực trạng, xác định rõ quan điểm phát triển kinh tế tri thức, chỉ rõ mô hình, mục tiêu, khâu đột phá và định hướng phát triển kinh tế tri thức, đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả các nội dung đề ra.

Thứ hai, phát triển mạnh nguồn lao động chất lượng cao, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài. Tăng nhanh đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý, doanh nhân... Tập trung đào tạo nghề đạt chuẩn quốc tế đối với 8 lĩnh vực ngành nghề được tự do di chuyển theo thỏa thuận trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN.

Thứ ba, tăng cường năng lực khoa học - công nghệ quốc gia để có thể tiếp thu, làm chủ, vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học - công nghệ mới nhất của thế giới cần thiết cho phát triển của đất nước, từng bước sáng tạo công nghệ đặc thù của đất nước, xây dựng nền khoa học - công nghệ tiến tiến của Việt Nam.

Thứ tư, đầu tư phát triển mạnh mẽ hạ tầng công nghệ thông tin; đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghệ thông tin là chìa khóa để đi vào kinh tế tri thức.

Thứ năm, ban hành các cơ chế, chính sách để hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp, hỗ trợ, khuyến khích, thúc đẩy DN đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cơ chế, chính sách vừa khuyến khích vừa đặt ra yêu cầu cho các DN phải luôn đổi mới dựa trên công nghệ mới và thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời các DN mới, nhất là các DN kinh doanh sản phẩm mới, công nghệ mới.

Thứ sáu, không ngừng cải cách, đổi mới để đảm bảo vai trò dẫn dắt, quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế. Cần có cơ chế đặc thù để các khu công nghệ cao, khu công viên phần mềm phát huy vai trò là trung tâm đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng hàm lượng tri thức, tập trung phát triển các ngành công nghệ cao, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu; từng bước thoát dần bẫy thu nhập trung bình.

Thứ bảy, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế nhằm tranh thủ nguồn ngoại lực, kết hợp nội lực để bắt kịp xu thế phát triển khoa học công nghệ tiên tiến, phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa lực lượng sản xuất của đất nước./.
 
Để hình thành nền tảng của kinh tế tri thức, thời gian qua, TP. HCM đã thành lập và phát triển Chuỗi Công viên phần mềm Quang Trung và một số khu công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao; ban hành Chương trình xây dựng Thành phố trở thành đô thị thông minh. Đặc biệt, Thành phố đang nghiên cứu lập, xây dựng quy hoạch Khu đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông gắn với việc thành lập Thành phố Thủ Đức. Bên cạnh đó, TP. HCM cũng ban hành nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy các nghiên cứu khoa học công nghệ gắn với cuộc sống, hoàn thiện hệ sinh thái khởi nghiệp, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; đưa nội dung đào tạo công nghệ thông tin, kỹ năng số vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng nguồn nhân lực số, hình thành đội ngũ chuyên gia và kỹ thuật viên đủ chuẩn quốc tế./.
 
THÀNH ĐỨC 

Bình Luận