Chủ Nhật, 16/8/2020 - 01:55:23 Đường dây nóng: 096 774 2199

Sửa cơ chế để quản chặt hơn thị trường trái phiếu doanh nghiệp

Thứ Hai, 30/03/2020 09:10:00

(BKTO) - Sự nới lỏng về điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) từ cách đây hơn 1 năm đã giúp nhiều DN huy động được một lượng vốn trung và dài hạn không nhỏ, giảm đáng kể sự lệ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng. Tuy nhiên, quy định đó cũng đã khiến nhiều DN huy động trái phiếu bằng mọi giá, làm tăng rủi ro cho chính DN và cả nhà đầu tư. Do vậy, Bộ Tài chính đang xem xét việc quản lý chặt chẽ hơn vấn đề này.

4 điểm mới về phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Bộ Tài chính cho biết, năm 2019, đã có gần 30 DN phát hành TPDN với khối lượng vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu, trong đó, 11 DN phát hành vượt 50 lần và 6 DN vượt tới 100 lần vốn chủ sở hữu. Đặc biệt, một số DN tuy phát hành với khối lượng rất lớn nhưng không công khai mục đích sử dụng vốn và phương án bố trí nguồn thanh toán gốc, lãi trái phiếu. Có DN đã trả lãi tới 20%/năm, vượt quá năng lực tài chính của DN và phá vỡ mặt bằng lãi suất chung. Do đó, để thị trường TPDN phát triển lành mạnh, đúng hướng, việc sửa đổi Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04/12/2018 quy định về phát hành TPDN (Nghị định 163) là cần thiết, hướng tới xây dựng khung pháp lý đầy đủ và chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ các nhà đầu tư cũng như ngăn ngừa các trường hợp lừa đảo. 

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163 ra đời trong bối cảnh cơ quan quản lý đang xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật Chứng khoán sửa đổi (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) với mục đích tạo thêm nhiều cơ chế bảo vệ cho các nhà đầu tư. Theo đó, Luật Chứng khoán mới sẽ kiểm soát chặt hơn hoạt động chào bán trái phiếu riêng lẻ bằng cách tăng mức vốn điều lệ yêu cầu tối thiểu của tổ chức phát hành từ 10 - 30 tỷ đồng, quy định trái phiếu phát hành riêng lẻ của công ty đại chúng chỉ được chào bán và giao dịch giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. 

So với Nghị định 163, Dự thảo Nghị định trên sẽ quản lý chặt chẽ hơn tổng giá trị phát hành và tiến độ phát hành trái phiếu của các DN với 4 nội dung đáng chú ý. 

Thứ nhất, dư nợ TPDN phát hành riêng lẻ tại thời điểm phát hành không được vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu theo báo cáo tài chính quý gần nhất. 

Thứ hai, mỗi đợt phát hành phải hoàn thành trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công bố thông tin trước khi phát hành; đợt phát hành sau phải cách đợt phát hành trước tối thiểu 6 tháng (Nghị định 163 không quy định thời gian tối thiểu giữa các lần phát hành, nên DN có thể phát hành các đợt liên tục). 

Thứ ba, bãi bỏ điều khoản cho phép bán trực tiếp trái phiếu cho nhà đầu tư. 

Thứ tư, tổ chức tư vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu chỉ còn công ty chứng khoán (bỏ các tổ chức tư vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu khác là tổ chức tín dụng và các định chế tài chính khác).

Cần củng cố niềm tin của nhà đầu tư

Nhiều năm qua, thị trường TPDN chủ yếu dành cho nhà đầu tư tổ chức, sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân không đáng kể. Tuy nhiên, 2 năm gần đây, với sự bùng nổ của TPDN, đặc biệt qua kênh phân phối của một số ngân hàng thương mại, cấu phần tham gia của nhà đầu tư cá nhân đã định hình và có xu hướng tăng lên nhanh chóng.

Tổng hợp báo cáo của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và kết quả kiểm tra của Đoàn kiểm tra liên Bộ về tình hình phát hành TPDN cũng cho thấy, xu hướng nhà đầu tư cá nhân tham gia mua TPDN ngày càng tăng. Bên cạnh nhà đầu tư cá nhân có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm đầu tư, thị trường còn có sự tham gia của các nhà đầu tư nhỏ lẻ, năng lực tài chính hạn chế và không có kinh nghiệm đầu tư. 

Tuy nhiên, theo phân tích của các cơ quan chức năng thời gian qua, thị trường TPDN Việt Nam còn tiềm ẩn những rủi ro khi nhiều trái phiếu không có tài sản đảm bảo, việc đánh giá/xếp hạng tín nhiệm cũng như thẩm định phương án sử dụng vốn còn hạn chế… Sự gia tăng của nhà đầu tư cá nhân gồm cả nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ trong khi chưa tiếp cận đầy đủ thông tin về mục đích phát hành, tình hình tài chính, khả năng trả nợ, đặc điểm của trái phiếu… sẽ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Chưa kể, lãi suất TPDN cao có thể tác động đến mặt bằng lãi suất trên thị trường ngân hàng, ảnh hưởng đến mục tiêu điều tiết lãi suất, ổn định vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước. Điều này cũng đồng nghĩa với áp lực trả lãi lớn và DN dễ gặp rủi ro thanh toán trong trường hợp hoạt động kinh doanh có những yếu tố tác động bất lợi ngoài dự báo, nhất là khi phương án sử dụng vốn vay không thực sự có khả năng mang lại hiệu quả cao. Hệ quả, DN không thực hiện đầy đủ hoặc không thực hiện được các cam kết với nhà đầu tư, dẫn tới gây bất ổn cho thị trường tài chính và xã hội, ảnh hưởng đến lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường TPDN nói riêng và thị trường vốn nói chung.

Mặt khác, theo các chuyên gia, Việt Nam mới có thị trường trái phiếu sơ cấp  mà chưa có thị trường trái phiếu thứ cấp - nơi sản phẩm được mua đi bán lại. Hơn nữa, trong nước, vẫn chưa có đơn vị nội địa cung cấp dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đủ tin cậy. Do đó, để nhà đầu tư cá nhân có thể rót tiền vào TPDN, Việt Nam cần có thị trường thứ cấp - nơi tính thanh khoản cao hơn; đặc biệt, dịch vụ định hạng tín nhiệm phải uy tín, tạo được niềm tin nơi nhà đầu tư - các chuyên gia khuyến cáo. 

Bởi vậy, tuy còn ý kiến khác nhau nhưng cả cơ quan quản lý, các DN tư vấn và chuyên gia tài chính đều khá đồng thuận quan điểm: Cần khống chế tần suất phát hành trái phiếu cũng như giá trị phát hành trên vốn chủ sở hữu để ngăn chặn nguy cơ vỡ nợ của DN, giảm thiểu rủi ro mất tiền cho nhà đầu tư, đảm bảo thị trường TPDN phát triển lành mạnh và ổn định.

HỒNG NHUNG

Bình Luận